Chương 2. TỪ VỰNG TIẾNG Ê ĐÊ VAY MƯỢN TIẾNG VIỆT – Tài liệu text

Chương 2. TỪ VỰNG TIẾNG Ê ĐÊ VAY MƯỢN TIẾNG VIỆT – Tài liệu text

40

có nghề làm nông và một số nghề thủ công nghiệp. Vì thế, khi tiếp xúc với

Quý khách đang xem: Chương 2. TỪ VỰNG TIẾNG Ê ĐÊ VAY MƯỢN TIẾNG VIỆT – Tài liệu text

người Việt, với một xã hội có tới cả trăm nghề khác nhau thì người Ê đê đã

phải vay mượn của người Việt hàng loạt các từ ngữ chỉ nghề nghiệp do thiếu,

không có.

Có rất nhiều các từ ngữ chỉ nghề nghiệp trong tiếng Việt đã được tiếng

Ê đê vay mượn. Đó là từ chỉ các nghề được cho là trí thức, quan trọng và thu

hút rất nhiều người trong làng mạc hội mong muốn được tham gia như: aê mdrao

(bác sỹ), kông an (công an), pô mgaih kđi đru dŏng mgang mnuih soh anăp

sang phat kđi (luật sư), nai mdrao êgei (nha sĩ), lĭng k’han (bộ đội), Mnuih

ghan mnia (thương nhân),… Cho đến các nghề rất bình dị như mnuih mă bruă

ƀơng prăk (công nhân) , pô jơng găp djuê (gia sư), mgăt êdeh (tài xế), mnuih

mă bruă sac yao (ngư dân), mnui chĭ mnia (nhà buôn), mnuih ngă lŏ hma

(nông dân),…

Các nghề nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật cũng được tiếng Ê

đê vay mượn của tiếng Việt. Chẳng hạn như:

Phung kdŏ mmuñ čih kač: văn nghệ sĩ

Pô ngă rup: họa sĩ

Mnuih mčeh mjing klei kưt mnuñ: nhạc sĩ

Pô thâo mčeh klei duê: nhà thơ

Mnuih čih mjing klei yăl dliê: nhà văn

Pô mđung asăp: phát thanh viên

Mnuih duah mding klei mrâo mrang: phóng viên

Mnuih raih mblang: thuyết trình viên

Mặc dù người Ê đê cũng có một số nghề thủ công như dệt vải, đan lát,

làm gốm nhưng tiếng Ê đê cũng vẫn phải vay mượn từ tiếng Việt các từ ngữ

chỉ những người làm trong các nghề thủ công, chẳng hạn như:

Pô ngă mkra mnơng yua hŏng êa prăk: thợ bạc

41

Phung ngă klia sang: thợ biển

Phung ngă mnơng yua hŏng kyâo mtâo: thợ mộc

Pô kăp čuih: thợ dạiội

Mnuih klia pưk sang: thợ nề

Các từ chỉ tên các lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong xã hội tiếng Ê đê

cũng phải vay mượn từ tiếng Việt. Ví dụ:

Bruă tĭng yap: kế toán

Bruă lŏ hma: nông nghiệp

Êlan bruă mtô mjuăt: sư phạm

Prăk kăk ngăn drăp: tài chính

Bruă kmrơng dliê: lâm nghiệp

Bruă mnia mblei: yêu đương nghiệp

Mdrao mnơng rông: thú y

Lĭng kahan: quân đội

Bruă mkra mjing mnơng hŏng kiê kngan: tiểu công nghiệp

Kông ngiêp: công nghiệp

Klei mĭn: tâm lý

Mnuih ngă lŏ hma hjăn: tiểu nông

Bruă ngă hŏng kiê kngan đơ điêt: tiểu thủ công

Mnuih čhĭ mnia đơ điêt: tiểu yêu thương

Bruă hŏng kiê kngan Bruă hŏng kiê kngan: thủ công

Bruă hŏng kiê kngan: thủ công nghiệp

Người làm việc trong mỗi lĩnh vực ngành nghề khác nhau được gọi

bằng những tên khác nhau. Trong cùng một lĩnh vực cũng có nhiều vị trí,

chức vụ công tác đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau. Tiếng Việt cũng cho

tiếng Ê đê vay mượn lớp từ ngữ chỉ chức vụ, vị trí công tác này. Đó là các từ

ngữ chỉ các chức vụ, vị trí công tác khác nhau trong một ngành nghề hay của

42

nhiều ngành nghề khác nhau.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực giáo dục, tiếng Ê đê đã vay mượn của tiếng

Việt các từ ngữ chỉ chức vụ, vị trí công tác như:

K’iăng khua sang hră: hiệu phó

Khua sang hră: hiệu trưởng

Khua păn bruă: chủ nhiệm

Êpul khua sang hră: ban rét mướtm hiệu

Ksiêm dlăng: lạnhm khảo

Pô ksiêm dlăng: rétm thị

Nai mtô gưl ti dlông: réto sư

Hđeh hriăm hră: học sinh

Mnuih hriăm: học viên

Khua êpul gĭt: hội trưởng

Phung bi lông: thí sinh

Hđeh hriăm hră gưl sang hră prŏng: sinh viên

Trong lĩnh vực báo chí, một số từ ngữ chỉ chức vụ cũng được tiếng Ê

đê vay mượn từ tiếng Việt. Chẳng hạn:

Pô mkra čih: chủ biên

Pô răp čih: chủ bút

Pô hrŏng ruah klei čih mkra: tổng biên tập

Mặc dù người Ê đê cũng có hệ thống luật tục (phat kđi) của riêng mình

nhưng họ lại không có một hệ thống cơ quan với các cán bộ đảm nhiệm các vị

trí, chức vụ khác nhau để thực thi pháp luật như người Việt. Trong buôn của

người Ê đê chỉ có một người có uy tín được đứng ra dàn xếp, xử các vụ việc

theo luật tục được gọi là pô phat kđi. Pô phat kđi được dịch tương ứng như

Xem nhiều hơn: Mẫu bìa bài thu hoạch 2021 – Mẫu bìa bài báo cáo

chức vụ thẩm phán của người Việt, nhưng thực ra đây là người có toàn quyền

quyết định trong việc thực thi luật tục. Các từ ngữ chỉ chức vụ khác như

43

chánh án, quan tòa (khua phat kđi) đều là vay mượn từ tiếng Việt.

Các từ ngữ chỉ chức vụ trong các cơ quan của nhà nước từ trung ương

đến địa phương tiếng Ê đê cũng đều vay mượn của tiếng Việt. Đó là các từ:

Khua

:ƀichánh

rô văn phòng

Pô čih hră: thư ký

Khua gĭt gai knŭk kna: thủ tướng

K’iăng khua phŭn bruăt: thứ trưởng

Khua mil chil: tổng thống

Khua păn bruă hră m’ar: tổng thư ký

Dĭng Đang: đảng viên

Khua ph

:ŭn

bí či

thư chi

ƀôbộ

Khua phŭn (Mă bruă kđi car): bí thư

Khua anôk bruă: thủ trưởng

Khua knơng bruă: lạnhm đốc

Khua adŭ bruă: trưởng phòng

Pô dlăng bruă: đốc công

Pô kiă hjiê: thủ kho

Pô djă prăk: thủ quỹ

Pô čŏng mĭn: chuyên gia

Pô truăn sa bruă: chuyên viên

Số lượng từ ngữ chỉ chức vụ, lĩnh vực và vị trí công tác của tiếng Việt

được tiếng Ê đê vay mượn là khá lớn. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng

tôi tìm được 73 từ, cụm từ thuộc nội dung này, chiếm khoảng 7,5% tổng số từ

tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt. Đây là số lượng từ ngữ quan trọng phải vay

mượn khi mà ngày nay người Ê đê đã và đang tham gia vào rất nhiều lĩnh vực

nghề nghiệp khác nhau của xã hội.

44

2.1.2. Lớp từ ngữ chỉ cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp

Dân tộc Ê đê từ bao đời nay sống tập trung với nhau theo từng buôn.

Buôn làng thường được dựng ở những nơi có đất đai rộng rãi, bằng phẳng,

màu mỡ, gần các con sông, con suối và các khu rừng nguyên sinh. Buôn làng

của người Ê đê có đủ các yếu tố: khu đất rộng và bằng phẳng, bến nước, khu

đất làm rẫy, khu nhà mồ, khu rừng sinh thái (là nơi để người dân săn bắt, hái

lượm nuôi sống số đông),… Tất cả những yếu tố này tạo nên không gian

buôn làng.

Mỗi buôn như vậy có khoảng 400 đến 500 người là các thành viên

trong cùng một dòng họ hoặc vài dòng họ hợp thành. Buôn tầm thường mang tên

những người có công với dòng họ, chủ yếu là phụ nữ như H’Linh, H’Năng,

H’Wing,… hay tên của một dòng suối, con sông, ngọn núi: Krông Ana,

Krông Nô, Krông Buk, Cư Kuin, Čư M’Gar,…

Mỗi buôn đều có ranh giới riêng, được xác định bởi luật tục giữa các

buôn với nhau và được vận hành theo nguyên tắc tự quản. Đứng đầu buôn là

chủ bến nước (pô pin êa), tiếp đến là ông cậu, đại diện bên mẹ được gọi là pô

phat kđi – người nắm luật tục và xử các vụ vi phạm luật tục. Trong buôn có

một thầy cúng (pô riu Yang) chuyên trách thực hiện các lễ nghi cúng bái cho

toàn buôn. Các chức sắc này đều do một gia đình hoặc một dòng họ trong

buôn nắm giữ, theo phong tục mẫu hệ “mẹ truyền con nối”.

Chính những đặc điểm về bề ngoài tổ chức buôn làng mang những nét

đặc trưng của người Ê đê nên khi tiếp xúc với người Việt, người Ê đê đã phải

vay mượn hầu hết tất cả những từ ngữ chỉ tên các cơ quan, đơn vị hành chính

trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước của người Việt. Sự vay mượn này là do

thiếu, không có xuất phát từ cách tổ chức cộng đồng dân cư khác nhau.

Đầu tiên là người Ê đê đã phải mượn nhóm từ ngữ chỉ tên các cơ quan

trong tổ chức bộ máy nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương của người

45

Việt:

Sang čư êa: Nhà nước

Ƀuôn phŭn kơ ala: Thủ đô

Ƀuôn prŏng: Thành phố

Ƀuôn phŭn kdriêk: Thị trấn

Ƀuôn prŏng: Thị xóm

Kdriêk: Huyện

Tiếng Ê đê cũng mượn của tiếng Việt các từ ngữ chỉ tên các cơ quan do

nhà nước lập ra để thực hiện các công việc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Đó là các cơ quan, tổ chức như Chính phủ, Quốc hội; các tổ chức Đảng,

Đoàn:

K

:ƀĭn

Quốc

ala hội

Knŭk kna: Chính phủ

Knŭk kna: Chính quyền

Phŭn bruă Đang: Đảng bộ

Knơng bruă gĭt gai Đang: Đảng ủy

Knơng bruă Đang ti kdriêk car: Huyện ủy

Knơng bruă Đang ti Čar: Tỉnh ủy

Knơng bruă êdam êra ti Čar: Tỉnh đoàn

Knơng bruă lĭng k’han ti Čar: Tỉnh đội

Êpul gĭt phung hlăk ai ti kdriêk Čar: Huyện đoàn

K’han kdriêk Čar: Huyện đội

Êpul gơng: Ủy ban

Knơng bruă Đang ti

:ƀuôn

Thị ủy

prŏng

Các từ ngữ chỉ tên các cơ quan đứng đầu trong các lĩnh vực quản lí

khác nhau của chính phủ cũng được tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt.

Phŭn bruă Kông nghiêp: Bộ công nghiệp

46

Phŭn bruă Klông êlan: Bộ giao thông vận tải

Phŭn bruă mtô mjuăt: Bộ lạnh lẽoo dục

Phŭn bruă mjĕ mjuk: Bộ ngoại giao

Phŭn bruă lŏ hma: Bộ nông nghiệp

Phŭn bruă čar pô: Bộ nội vụ

Phŭn bruă ngăn drăp: Bộ tài chính

Phŭn bruă mdrao: Bộ y tế

Các từ ngữ chỉ tên các cơ quan đơn vị sự nghiệp được nhà nước xây

dựng nên thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để phục vụ cho tập thể dân cư

cũng được tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt.

Mdah kdrăp đưm: bảo tàng

Sang mdrao: bệnh viện

Sang jưh mdrao: bệnh xá

Hjiê prăk: ngân hàng

Sang shar kreh: nhà hát

Sang kkiêng: nhà hộ sinh

Sang maĭ: nhà máy

Sang rông hđeh: nhà trẻ

Nông trương: nông trường

Tổng số từ ngữ tiếng Ê đê vay mượn từ tiếng Việt chỉ cơ quan, đơn vị

hành chính sự nghiệp mà chúng tôi khảo sát và thống kê được là 36 từ, chiếm

khoảng 3,7% tổng số từ tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt.

2.1.3. Lớp từ ngữ chỉ khoa học kĩ thuật

Lớp từ ngữ là các thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học kĩ thuật khác

nhau được tiếng Ê đê vay mượn của tiếng Việt với số lượng nhiều nhất.

Trong lĩnh vực y học

47

Cũng như rất nhiều các dân tộc thiểu số khác trong cả nước, người Ê đê

ở Dak Lăk sinh sống tập trung trong các buôn, thường được lập nên giữa núi

rừng đại ngàn. Trước đây, khi chưa tiếp xúc với người Kinh, sinh mệnh của

con người, sự sống, sức khỏe hay cái chết đều được coi là do thần linh

“Yang” ban cho. Dân tộc Ê đê sống gắn bó với núi rừng, vì thế, họ biết đón

nhận những phần vàng vô giá từ vùng đất quê hương. Những người phụ nữ Ê

đê thế hệ này qua thế hệ khác truyền cho nhau những bài thuốc quí để chữa

bệnh. Những vị thuốc chính yếu được lấy từ cây, con trong rừng giúp họ phòng

ngừa và chữa được nhiều đau ốm.

Tuy nhiên, do tin vào thần linh nên trước kia, trong số đông người Ê

Xem nhiều hơn: 20 Bảng bé ngoan ý tưởng | ý tưởng lớp học, trang trí, mầm non

đê vẫn có nơi còn sống sót những hủ tục chữa bệnh dựa vào cúng bái hay hủ tục

con thế hệ sinh bị chôn theo mẹ khi người mẹ qua đời trong cơn sinh đẻ,… Hiện

nay, nhờ sự nhiệt tình của Đảng và Nhà nước, hệ thống bệnh viện, trạm xá

được thành lập đến tận các thôn, buôn kể cả ở vùng sâu, xa vùng đồng bào

dân tộc thiểu số để chăm lo sức khỏe cho bà con. Chính sách cấp thẻ bảo hiểm

y tế miễn phí giúp bà con bớt đi gánh lo về kiêng dè phí khám chữa bệnh. Người

Ê đê khi đau ốm đã biết đến trạm xá, bệnh viện để được các bác sĩ thăm

khám, chữa bệnh.

Xuất phát từ nhu cầu sử dụng trong thực tế, người Ê đê đã vay mượn

một vốn từ vựng trong lĩnh vực y học của người Việt. Đó là các từ ngữ chỉ

các loại bệnh khác nhau mà nhân loại mắc phải. Chẳng hạn:

Klei ruă

:ƀlak

bạchklĭt

tạng

Ruă đŏk: bạch hầu

Kluh êrah: băng huyết

Ală mmăt: cận thị

Klei ruă buôr: dịch hạch

Klei ruă ô sợh: dịch tả

48

Mtŭk ktăl đŏk: ho gà

Êngoh ktư yơng: sốt rét

Êngoh bi kbiă êrah: sốt xuất huyết

Bên cạnh các từ ngữ chỉ tên một số loại bệnh, tiếng Ê đê cũng mượn

của tiếng Việt một số thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực này. Đó là:

Kpăt kkuih tăp: nắm mạch

Hra klei ruă: bệnh án

Klei mdrao thơng kơ hđeh: nhi khoa

Aruăt êrah mơng tiê boh êran hiu tar asei mlei: động mạch

Kbiă: bài tiết

Atŭt klang rŏng: đốt sống

Mnơng mjing êa drao: dược liệu

Lĩnh vực sinh vật học

Sinh vật học cũng là một lĩnh vực khoa học mà tiếng Ê đê phải sử dụng

rất nhiều các thuật ngữ được vay mượn từ tiếng Việt. Trước hết là các từ ngữ

khác nhau để chỉ chuyên ngành này như:

Klei hriăm kơ djăp mta mnơng mâo klei hđĭp: sinh học

Mnơng hđĭp: sinh vật

Mta hriăm kơ kyâo mtâo rơk tơk: thực vật học

Rơk tơk kyâo mtâo: thực vật

Klei hriăm kơ djăp mta mnơng mđip: sinh vật học

Mnơng hđĭp đơ điêt: vi sinh vật

Klei hriăm kơ mnơng hdĭp đơ điêt: vi sinh vật học

Tiếp đến là các thuật ngữ chỉ tên các ngành, các nhóm, các loại cây

được phân loại theo các cách khác nhau – dựa vào đặc điểm của hạt, lá hay rễ;

dựa trên tác dụng, chức năng của từng loại cây. Ví dụ:

Kyâo mdăp asăr: cây hạt kín

49

Ana kyâo asăr êdah: cây hạt trần

Asăr hgăm: hạt bí mật

Asăr êdah: hạt trần

Ana kyâo brei mnơng

:ƀơng

cây lương

huă thực

Kyâo lŏ hma: cây nông nghiệp

Kyâo ana msĕ rơk: cây thân cỏ

Kyâo bin ana: cây thân gỗ

Agha bẩn thỉung: rễ cọc

Agha bi mñhua: rễ chùm

Agha jing boh: rễ củ

Hla bi kkuh kuôp: lá kép

Bên cạnh các từ mượn chỉ sự phân loại các loài thực vật thì tiếng Ê đê

cũng mượn của tiếng Việt một số từ ngữ chỉ tên các nhóm động vật. Chẳng

hạn:

Jơng bi atŭt: chân đốt

Mnơng rui hŏng tian, mnơng hnăr hŏng tian: bò sát

Lĩnh vực toán học

Toán học là một khoa học chủ quản nghiên cứu về số, không gian, cấu

trúc và các phép chuyển đổi. Hay nói một cách khác, người ta cho rằng toán học

là một lĩnh vực nghiên cứu về hình và số. Đây là một lĩnh vực thuộc về khoa

học tự nhiên, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của loài người.

Khi nhắc đến toán học người ta liên tưởng ngay đến logic, đến những tri thức

mang tính con người. Một phạm trù, một khái niệm toán học có thể được thể

hiện bằng những ngôn ngữ khác nhau nhưng nội dung, ý nghĩa của khái niệm

đó là đồng nhất ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Toán học có rất nhiều thuật ngữ

của riêng mình. Đây là những khái niệm mang tính khoa học và là tri thức

chung cho toàn nhân loại. Những từ ngữ biểu hiện các khái niệm này tiếng Việt

50

cũng phải vay mượn của một ngôn ngữ nào đó (chủ yếu là tiếng Hán) bằng

cách này hay cách khác. Khi tiếp xúc với người Việt, để tìm hiểu các nội dung

thuộc lĩnh vực khoa học này, đến phiên mình, người Ê đê lại phải vay mượn

lại các từ ngữ chuyên môn trên từ tiếng Việt.

Đầu tiên phải kể đến sự vay mượn các từ ngữ chỉ tên của lĩnh vực này

và tên các phân ngành lớn của nó:

Klei hriăm tĭng: toán học

Đăi sô: đại số

Hriăm tĭng: số học

Mta hriăm kơ rup: hình học

Trong phân ngành đại số, rất nhiều các từ ngữ chỉ các khái niệm

chuyên biệt khác nhau được tiếng Ê đê mượn từ tiếng Việt. Đó là các từ ngữ

như:

Mrô kdlưn hĭn: bội số

Mrô kdlưn hĭn mbĭt: bội số tầm thường

Pruê tĭng bi mđơr đua nah: đẳng thức

Pruê tĭng bi kah dua nah mâo boh jing mđơr: hằng đẳng thức

Mrô kah: phân số

Mrô bi mbha: yêu quý số

Mrô kah mdŭn mbĭt: ước số thông thường

Bi msĕ: qui đồng

Dua păn, dau tar: bình phương

Hình học cũng là một phân ngành của toán học với rất nhiều các khái

niệm đặc thù. Các từ ngữ chỉ các khái niệm này được tiếng Ê đê vay mượn

của tiếng Việt chủ yếu bằng hình thức dịch nghĩa, do thiếu, không có. Đó là

các từ ngữ:

Rei yong: bán kín đáoh

Nguồn gốc: https://danhgiaaz.com
danh mục: Hỏi đáp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *